MỚI NHẤT
CƠ QUAN CỦA TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Chung cư 5A Lê Đức Thọ nơi anh Đỗ Thanh Tuấn bị mất xe ôtô Mitsubishi Xpander. Ảnh: Minh Hạnh

Tình tiết bất ngờ vụ mất ôtô tại chung cư 5A Lê Đức Thọ

Minh Hạnh LDO | 20/02/2024 12:02

Hà Nội - Sau khi Báo Lao Động đăng tải thông tin “Ngang nhiên ăn trộm xe ôtô giữa khu chung cư tại Hà Nội”, chủ xe đã nhận được điện thoại của một người cho biết hiện cầm cố chiếc xe của anh và giá chuộc là 50 triệu đồng.

Theo anh Đỗ Thành Tuấn, chủ chiếc xe Mitsubishi Xpander, BKS: 30F-764.60 bị mất trộm tại bãi trông giữ xe tòa nhà chung cư Lê Đức Thọ, phường Mai Dịch (Cầu Giấy, Hà Nội), sau khi Báo Lao Động đăng tải thông tin chiếc xe của anh bị mất, đêm muộn 19.2, anh nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0931122xxx.

Người này cho biết đang cầm chiếc xe của anh Tuấn với giá 50 triệu đồng và đề nghị anh Tuấn muốn lấy lại xe thì đem tiền đến chuộc. Sau một hồi trao đổi, hai bên không thống nhất được nội dung.

Sau đó, anh Tuấn đã cung cấp thông tin này cho Công an phường Mai Dịch - đơn vị thụ lý đơn trình báo của anh liên quan đến việc mất xe ô tô.

Liên quan đến vấn đề chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có, Luật sư Nguyễn Đức Toàn (Công ty TNHH Vimax Châu Á, Đoàn Luật sư Hà Nội) cho biết, theo Khoản 1 Điều 1 Thông tư liên tịch 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC, tài sản do người khác phạm tội mà có là tài sản do người phạm tội có được trực tiếp từ việc thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: tài sản chiếm đoạt được, tham ô, nhận hối lộ…) hoặc do người phạm tội có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ việc họ thực hiện hành vi phạm tội.

Trong đó, tài sản bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản; bất động sản, động sản, hoa lợi, lợi tức, vật chính, vật phụ, vật chia được, vật không chia được, vật tiêu hao, vật không tiêu hao, vật cùng loại, vật đặc định, vật đồng bộ và quyền tài sản.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 1 Thông tư liên tịch 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có sẽ cấu thành tội phạm chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017).

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được chia thành hai hành vi sau đây:

Hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có: Là việc một cá nhân biết rõ đây là tài sản có được từ việc phạm tội nhưng cầm, giữ, che giấu tài sản do người khác phạm tội mà có.

Hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có: Là việc một cá nhân biết rõ đây là tài sản có được từ việc phạm tội nhưng vẫn mua để sử dụng hoặc vào mục đích mua bán khác để tiêu thụ tài sản này cho người phạm tội.

Do đó, tùy vào hành vi phạm tội mà người bị truy cứu trách nhiệm hình sự có thể chịu các tội danh khác nhau.

Hành vi phạm tội phải đáp ứng được các điều kiện sau đây: Không có sự hứa hẹn trước với người giao tài sản là sẽ chứa chấp hoặc sẽ tiêu thụ tài sản của người đó; Khi nhận tài sản hoặc tiêu thụ tài sản thì mới biết rõ là do người giao tài sản phạm tội mà có được tài sản đó.

Hậu quả của hành vi phạm tội: xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại, gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý và truy cứu trách nhiệm hình sự.

Các khung hình phạt đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Khung 1: Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

Khung 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm: Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; Thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; Tái phạm nguy hiểm.

Khung 3: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 10 năm: Tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.

Khung 4: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm: Tài sản, vật phạm pháp trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên; Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên.

Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Tin mới nhất

Gợi ý dành cho bạn