MỚI NHẤT
CƠ QUAN CỦA TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM

Nguyễn Trãi -một thời Thiên Sơn Độn

Xuân Cang LDO | 29/08/2016 17:24
Văn chương là bản sao của hành trình số mệnh. Nguyên lý trên được thử thách một lần nữa trong cuộc đời thi hào Nguyễn Trãi. Nhân đọc “Nguyễn Trãi Quốc âm từ điển” của Trần Trọng Dương (NXB Từ điển Bách khoa, 2014), tôi có trong tay 254 bài thơ nôm của Nguyễn Trãi (1380 - 1442) nhà thơ hàng đầu trong lịch sử thi ca Việt Nam.
Trong một phút vô thức thăng hoa của cảm xúc, tôi bỗng thấy hiện lên một Nguyễn Trãi với mệnh Hà Lạc, tiền vận là Thiên Sơn Độn, nguyên đường (chủ mệnh) hào 3, hậu vận là Địa Thiên Thái hào 6. Xin không nói về những tác phẩm vĩ đại khác của Nguyễn Trãi (NT), chỉ cần đọc 254 bài thơ nôm đã thấy hiện lên những chặng đường Thiên Sơn Độn và Địa Thiên Thái của người anh hùng dân tộc và nhà thơ có cuộc đời tài hoa và bi tráng. Trong bài ngắn này tôi chỉ xin nói về thời Thiên Sơn Độn của ông qua những áng thơ trác tuyệt bằng ngôn ngữ thuần Việt, “trong sáng mà khúc triết, âm thầm mà thiết tha” (lời của Trần Trọng Dương). Độn là Thoái (lùi về, ẩn tránh). Quẻ có tượng Trời (ở trên), Núi (ở dưới). Ở dưới chân núi thì thấy đỉnh núi là trời, nhưng càng lên càng thấy trời lùi lên cao nữa, tới đỉnh núi thấy trời mù mịt tít vời, như trời trốn lánh núi, nên người xưa đặt tên quẻ là Độn. Thời Độn là hanh thông, bởi vì ở thời này khí âm đang tiến mạnh, đám tiểu nhân, cái ác đang ở thế chủ đạo, khí dương phải rút đi, xem vậy người quân tử nên ẩn tránh, chờ thời cơ, đạo quân tử vẫn còn. Thời Hán Cao Tổ (Trung Quốc) Trương Lương nhờ biết độn, ẩn tránh nơi rừng núi mà soạn được bộ “Binh pháp” để lại cho đời sau, Hàn Tín có tài nhưng không biết độn, phải chết oan uổng giữa triều đình. Thuở ban đầu cuộc đời NT đã diễn ra như thế. Năm 20 tuổi đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) dưới triều nhà Hồ. Khi giặc Minh xâm lăng, nhà Hồ thất bại, cha con NT bị bắt đưa sang Trung Quốc. Khi đến Nam Quan, cha Nguyễn Phi Khanh đã khuyên NT trốn về trả thù nhà, nợ nước. Theo các nhà khoa học thời nay, NT vâng lời cha về Thăng Long (bị quân Minh đổi tên là Đông Quan) tìm đến Làng Mui ở phía nam thành mở trường dạy học. Nơi đây về sau có tên là Khuyến Lương (tên do NT đặt), thuộc xã Trần Phú, huyện Thanh Trì, hiện nay thuộc quận Hoàng Mai, Hà Nội. Nơi đây, theo cố PGS. Chu Quang Trứ, đủ “độ xa” để chính quyền Đông Quan không thể kiểm soát chặt chẽ, nhưng cũng đủ “độ gần” để ông hàng ngày nắm được tin tức của giặc. Một nơi ẩn tránh giữa lòng dân. Khi có động, lặng lẽ ra sông Hồng, nước non xuôi ngược. NT đã cùng Nguyễn Thị Lộ ở đây khoảng 10 năm và chính từ đây đã hình thành cuốn “Bình Ngô sách” sau này bí mật vào Thanh Hóa dâng cho Lê Lợi, thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn. Cái thời Thiên Sơn Độn ấy đã hiện lên trong “Quốc âm thi tập”. Trước hết là bài “Thủ vĩ ngâm”: “Góc thành Nam lều một căn/ No nước uống thiếu cơm ăn/ Con đòi trốn dường ai quyến/ Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn/ Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá/ Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn/ Triều quan chẳng phải ẩn chẳng phải/ Góc thành Nam lều một căn”. Bà ngựa: con ngựa, bà là tên cổ của từ con (ngày nay lưu lại thành cặp từ bà con). Thú thứa: xuềnh xoàng. Vằn: mèo mướp có lông vằn vện. Triều quan: quan lớn trong triều đình. Phải chăng mệnh thời Độn đã xui khiến ông viết “triều quan chẳng phải ẩn chẳng phải”? Những bài thơ khác kín đáo hơn. “Dễ hay ruột bể sâu cạn/ Khôn biết lòng người vắn dài/ Sự thế dữ lành ai hỏi đến/ Bảo rằng ông đã điếc hai tai” (Ngôn chí 5). Ruột bể: lòng, đáy bể. Có phải “điếc hai tai” không? Không phải, ta hãy đọc bốn câu sau đây: “Ao quan thả gưởi hai bè muống/ Đất Bụt ương nhờ một rãnh mùng/ Còn có một lòng âu việc nước/ Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung” (Thuật hứng 23). Rãnh mùng: luống mùng tơi. Âu việc nước: lo việc nước. Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung: đêm đêm thức từ đầu cho đến cuối. Tôi bắt gặp những câu thơ ông viết về Chu Dịch, đây là một: “Nha tiêm tiếng động án Chu Dịch/ Thạch đỉnh hương tàn khói thủy trầm” (Tự thuật 8). Nha tiêm là cái thẻ ngà dùng đánh dấu sách. Án Chu Dịch là cái bàn đọc sách. Trong tiếng động khẽ khàng trên bàn đọc sách Chu Dịch, chiếc đỉnh đá khói trầm hương đã tàn. Gỗ trầm đặt trong nước thì chìm, nên còn gọi là thủy trầm. Đọc câu thơ, thấy lạnh người trong không khí im lặng thiêng liêng. Những ngày ở ẩn ấy của NT, từ Chu Dịch đến Bình Ngô sách như thế nào không rõ, mãi đến khi ông viết Bình Ngô đại cáo mới bộc lộ ra: Nghiệm xưa nay, suy tính hưng vong mọi lẽ! (Theo Nguyễn Huệ Chi). Tại sao biết Nguyễn Thị Lộ cũng có mặt trong những ngày Độn này? Là vì sau thảm án Lệ Chi Viên (NT và Nguyễn Thị Lộ bị chu di tam tộc), đến triều Lê Thánh Tôn, ông vua này đã xóa án, minh oan cho NT. Nhân dân Khuyến Lương vui mừng lập hai đền thờ cách nhau khoảng nửa dặm đường, còn gọi là miếu Ông và miếu Bà. Trong đền thờ NT còn có đôi câu đối “Miếu Cổ Mai kinh Hoàng Lĩnh Bắc/ Thủy Thanh Trì dẫn Nhị Khê Nam”. Chả là làng Mui, Khuyến Lương xưa còn có tên Cổ Mai Đàm. Nhị Khê là quê hương NT. Nhân dân truyền lại rằng: Miếu Ông ở vị trí mà NT dạy học và giao tiếp bạn bè, cũng là nơi quân tướng nhà Minh có thể lui tới kiểm soát. Miếu Bà có thể là chỗ ăn ở của Nguyễn Thị Lộ, nơi trồng trọt và canh cửi. Một điều huyền diệu là sự kiện ông bà trùng khớp với lời hào 3 quẻ Thiên Sơn Độn: Ẩn tránh mà vẫn bị ràng buộc!

Tin mới nhất

Gợi ý dành cho bạn