MỚI NHẤT
CƠ QUAN CỦA TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
Học viên Học viện Cảnh sát nhân dân. Ảnh: BCA

Thời gian làm việc của nhà giáo Công an nhân dân tương đương 1.760 giờ/năm

Hoàng Quang LDO | 15/06/2023 16:30
Bộ Công an đang đưa ra lấy ý kiến về dự thảo Thông tư Quy định chế độ làm việc đối với nhà giáo trong Công an nhân dân. Theo đó, thời gian làm việc của nhà giáo Công an nhân dân (CAND) trong năm học là 44 tuần (tương đương 1.760 giờ hành chính).

Theo dự thảo Thông tư, thời gian làm việc của nhà giáo trong Công an nhân dân trong năm học là 44 tuần (tương đương 1.760 giờ hành chính) để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn khác, được xác định theo năm học sau khi trừ số ngày nghỉ theo quy định.

Dự thảo Thông tư quy định quy đổi giảng dạy lý thuyết: 

1. Một tiết giảng lý thuyết hoặc giảng lý thuyết kết hợp thực hành trực tiếp trên lớp hoặc trực tuyến, một tiết giảng lý thuyết kết hợp làm mẫu ở thao trường, bãi tập đối với lớp học lý thuyết quy mô tiêu chuẩn được tính bằng 1,0 giờ chuẩn giảng dạy.

2. Một tiết giảng chuyên đề, giảng lý thuyết cho các lớp bồi dưỡng chức danh cho lãnh đạo cấp huyện trở lên; giảng dạy theo chương trình tiên tiến, lớp đào tạo cử nhân tài năng, trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, cao cấp lý luận chính trị hoặc một tiết giảng bằng tiếng nước ngoài đối với môn học không phải là môn ngoại ngữ được tính bằng 1,5 giờ chuẩn giảng dạy.

Dự thảo Thông tư quy định quy đổi giờ nghiên cứu khoa học:

1. Chỉ quy đổi giờ cho các hoạt động khoa học và công nghệ đã hình thành chưa quá 24 tháng so với thời điểm quy đổi và chưa được quy đổi giờ nghiên cứu khoa học trong các năm trước đó.

2. Thời gian nghiên cứu khoa học được quy đổi theo năm học và không được bù trừ giữa các năm học. Chỉ quy đổi giờ cho các hoạt động khoa học và công nghệ có đủ minh chứng sản phẩm theo quy định.

3. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp có thời hạn 12 tháng chỉ được quy đổi giờ sau khi đã được nghiệm thu chính thức ở cấp quản lý nhiệm vụ; có kết quả nghiệm thu được xếp từ loại “đạt” trở lên và đã nộp đầy đủ hồ sơ nghiệm thu về đơn vị quản lý nghiên cứu khoa học.

4. Đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp nhà nước, số giờ được chia đều cho 03 năm; số giờ dành cho các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp bộ, tỉnh, thành phố được chia đều cho 02 năm (năm đầu tiên được tính tại thời điểm ký hợp đồng và năm cuối cùng được tính tại thời điểm đã hoàn thành việc nghiệm thu chính thức). Các nhiệm vụ khoa học và công nghệ quá hạn không được tính số giờ nghiên cứu khoa học cho thời gian gia hạn.

5. Số người tham gia (để tính giờ chuẩn) đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp là các thành viên thực hiện ghi trong thuyết minh nhiệm vụ đã được cấp quản lý phê duyệt.

6. Chỉ quy đổi giờ 01 lần vào năm học có quyết định đưa vào sử dụng đối với chương trình giáo dục, giáo trình, tài liệu dạy học.

7. Đối với các bài báo đăng trên tạp chí khoa học, kỷ yếu hội thảo khoa học được tính tại thời điểm phát hành. Nếu bài viết công bố có nhiều tác giả, số giờ được chia đều cho số thành viên tham gia.

8. Chỉ quy đổi cho các hội nghị thông tin khoa học có đăng ký kế hoạch và thực hiện có sự phê duyệt của Thủ trưởng cơ sở giáo dục. Tổng số giờ nghiên cứu khoa học được quy đổi từ hoạt động báo cáo và tham gia hội nghị thông tin khoa học của mỗi cá nhân không vượt quá 50% định mức giờ nghiên cứu khoa học của cá nhân đó.

9. Mỗi năm, nhà giáo phải hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được giao tương ứng với chức danh hoặc vị trí công việc đang đảm nhiệm. Kết quả nghiên cứu khoa học của nhà giáo được đánh giá thông qua các sản phẩm nghiên cứu khoa học cụ thể.

10. Đối với những nhà giáo không thực hiện đủ định mức nghiên cứu khoa học theo quy định, Thủ trưởng cơ sở giáo dục căn cứ vào kế hoạch công tác của cá nhân và điều kiện thực tế để xem xét khi đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ trong năm học, xếp loại thi đua và giải quyết các chế độ, chính sách liên quan.

Tin mới nhất

Gợi ý dành cho bạn